Nuôi ong tay áo

Câu này được giải thích là nuôi dưỡng kẻ xấumà không biết, để rồi sau phải chịu tai hoạ từ chính việc nuôi dưỡng đó. Về nội dung câu thành ngữ này được hiểu khá thống nhất, tuy nhiên, hình ảnh nuôi ong thì vẫn còn nhiều tranh cãi. Rất nhiều người hiểu đó là việc một người nào đó nuôi ong trong tay áo của mình. Nuôi như vậy thì có ngày sẽ bị ong đốt cho. Nhưng cách hiểu này có phần thiếu thực tế vì chẳng có ai dù có đần độn lại đi nuôi ong trong tay áo của mình. Cách nuôi đó cũng phi thực tế vì áo la thứ mặc và thay hàng ngày. Vậy ong tay áo là gi? Thực ra đây là tên gọi của một loài ong có màu đen thường làm tổ trên cây, tổ ong thụng xuống như hình dáng của cái tay áo nên loài ong này được gọi là “ong tay áo”. Khi ong tay áo không tìm được chỗ làm tổ trên cây thường chọn những cột gỗ ngoài hiên, ngoài hè ...làm tổ. Theo quan niệm xưa khi loai ong này(có lẽ vì màu sắc của chúng) làm tổ trong nhà thường mang đến những điều không may mắn cho gia chủ. Vì vậy người ta thường hun khói để đuổi chúng đi. Trái với ong tay áo loại ong vàng được người Việt rất thích vì khi chúng làm tổ trong nhà nghĩa là đã mang may mắn, tiền bạc đến cho gia đinh. Câu thành ngữ nuôi ong tay áo vì thế được giải thích là những người nuôi mầm hoạ, không may mắn cho mình giống như đang nuôi loài ong tay áo chẳng được tích sự gì mà còn mang đến những điều không hay.

Từ Hán Việt - Những khía cạnh Việt hóa




Nhiều nhà ngôn ngữ học cũng nêu lên con số thống kê: Hơn 60% từ vựng Việt Nam có nguồn gốc Hán.

Vậy phải chăng ai giỏi chữ Hán thì dùng từ Hán - Việt đều xác đáng? Chưa hẳn!

Mở đầu cuốn Hán - Việt từ điển, học giả Đào Duy Anh viết: "Bỉ nhân khi mới nghiên cứu quốc văn, đã lấy sự không có từ điển làm điều rất khốn nạn...".
Ngày nay, từ khiêm xưng bỉ nhân rất xa lạ với người Việt. Còn để diễn tả tình trạng lúng túng khó khăn, chẳng ai dùng từ khốn nạn cả. Bộ tiểu thuyết Les Misérables của Victor Hugo, trước kia cũng có người dịch là Những kẻ khốn nạn, về sau phải chỉnh sửa thành Những người khốn khổ. Bởi lẽ, khốn nạn trong từ Hán - Việt không còn giữ nguyên ý nghĩa gốc Hán là "khó khăn, khổ sở" mà đã biến nghĩa và đổi cả mầu sắc tu từ: "hèn mạt, đáng khinh".

Cũng cần lưu ý rằng hàng loạt từ cực kỳ thông dụng mà không ít người cho rằng là từ thuần Việt, thực ra cũng mang gốc Hán: ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, thím, dì, áo, quần, bàn, ghế... Thế nhưng, ngôn ngữ Việt Nam không phải là ngôn ngữ Hán. Về căn bản, ngữ pháp Việt khác xa ngữ pháp Hán. Và trong quá trình vay mượn từ Hán, biến từ Hán thành từ Hán - Việt, dân tộc ta đã Việt hóa bằng nhiều cách.

Trước tiên là Việt hóa về mặt ngữ âm: từ Hán chuyển thành từ Hán - Việt được đọc theo âm Việt (thường gọi là âm Hán - Việt) theo một hệ thống quy luật nhất định. Để nắm rõ vấn đề này, bạn đọc có thể tham khảo sách Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán - Việt của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 1979). Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến sự Việt hóa gốc Hán về các mặt kết cấu, ý nghĩa và mầu sắc tu từ.Thay đổi kết cấu

Từ Hán - Việt có nhiều thay đổi về mặt kết cấu nếu so với từ gốc Hán. Dễ thấy nhất là xu hướng rút gọn hàng loạt từ ghép thành từ đơn: văn (văn chương, văn học), chế (chế biến, chế tạo), lệnh (mệnh lệnh), đảm (đảm đương), hạn (kỳ hạn), hỗn (hỗn hào), điệu (yểu điệu), nghiệt (khắc nghiệt), v.v. Đã rút gọn thế rồi, người Việt lại phát triển thành từ ghép Việt Nam theo công thức: từ Việt + từ Hán. Theo đó, biết bao từ mới xuất hiện như: cảm mến, bao gồm, bày biện, bình bầu, biến đổi, bồi đắp, kỳ lạ, sống động...

Ngay cả những từ ghép mang gốc Hán hoàn toàn, khi trở thành từ Hán - Việt thì đã chuyển hóa vị trí. Người Trung Quốc viết động dao, còn người Việt là dùng dao động. Thí dụ về sự chuyển hóa vị trí như thế có rất nhiều: náo nhiệt (Hán: nhiệt náo), di chuyển (chuyển di), tố cáo (cáo tố), phóng thích (thích phóng), tướng mạo (mạo tướng), cứu vãn (vãn cứu), quyền lợi (lợi quyền), tiến cử (cử tiến)... Dĩ nhiên, chẳng phải từ ghép nào cũng có thể thay đổi vị trí. Điều này thường xảy ra trong trường hợp từ ghép được cấu tạo bởi hai từ đơn âm đồng nghĩa.

Lại có những từ ghép cũng hoàn toàn mang gốc Hán, song người Việt thay hẳn một yếu tố nào đấy để dùng riêng. Nếu Hán ngữ dùng hộ sĩ thì Việt Nam dùng hộ lý (ghi chú: trước kia ở Trung Quốc cũng có từ "hộ lý" nhưng dùng chỉ vị quan cấp dưới thay thế vị quan cấp trên để giải quyết công việc lúc quan cấp trên vắng mặt). Chúng ta dùng từ họa sĩ, song Trung Quốc dùng từ họa sư/họa công. Chúng ta dùng từ tường tận, song Trung Quốc dùng tường tế...Thậm chí, những kết cấu ngôn ngữ rất ổn định, rất bền vững là thành ngữ, thì cũng phải thay đổi lúc thành ngữ Hán trở thành thành ngữ Hán - Việt. Những từ nằm trong ngoặc đơn ở các thí dụ sau là gốc Hán: tác oai tác quái (tác uy tác phúc), khẩu Phật tâm xà (Phật khẩu xà tâm), du thủ du thực (du thủ hiếu nhàn), thập tử nhất sinh (cửu tử nhất sinh), an phận thủ thường (an phận thủ kỹ), thượng lộ bình an (nhất lộ bình an)...

Thay đổi ngữ nghĩa

Có thể nói rằng hầu hết từ ghép gốc Hán được nhân dân ta vay mượn thì đã thay đổi nghĩa hoặc ít hoặc nhiều. Với những từ ghép đa nghĩa, lắm khi chúng ta chỉ chọn một số ý nghĩa nào đấy mà thôi. Chẳng hạn từ phù phiếm, ta chỉ dùng nghĩa bóng (không thiết thực) mà không dùng nghĩa đen (ngồi thuyền dạo chơi). Hoặc từ bác sĩ thì gốc Hán gồm ba nghĩa: 1. Chỉ một chức quan được đặt ra từ đời Tần: ngũ kinh bác sĩ, quốc tử bác sĩ; 2. Chỉ người thành thạo một nghề gì: trà bác sĩ (người chuyên bán trà); 3. Chỉ học vị: Pháp học bác sĩ, y học bác sĩ. Thế nhưng, Việt Nam dùng từ bác sĩ với một nghĩa rất hẹp, chỉ người tốt nghiệp đại học y khoa (y học bác sĩ). Trong khi đó, tiếng Hán hiện đại lại có từ y sinh để chỉ thầy thuốc (bác sĩ).

Nhiều trường hợp, khi vay mượn từ gốc Hán, người Việt chủ động phát triển thêm một vài nghĩa không có trong tiếng Hán. Từ Hán đinh ninh vốn có nghĩa "dặn dò", lúc trở thành từ Hán - Việt thì có thêm nghĩa mới là "yên trí". Hoặc từ bồi hồi vốn có nghĩa "đi đi lại lại", người Việt còn hiểu là "bồn chồn, lòng dạ không yên".Táo bạo nhất là cách thay đổi toàn diện ý nghĩa: hình thức vay mượn, song ý nghĩa lại khác hoàn toàn. Như khôi ngô, từ Hán có nghĩa "to lớn", còn từ Hán - Việt lại có nghĩa "thông minh". Hoặc mê ly, từ Hán có nghĩa "mơ hồ, không rõ", từ Hán - Việt có nghĩa "rất hay, rất hấp dẫn". Hoặc lẫm liệt, từ Hán có nghĩa là "rét mướt", từ Hán - Việt có nghĩa "oai phong". Với những trường hợp này, sự Việt hóa đã đạt đến mức triệt để.Thay đổi mầu sắc tu từ

Thông thường, với hai từ đồng nghĩa (một từ Hán - Việt và một từ Việt), thì dùng từ Hán - Việt mang tính trịnh trọng hơn, hoặc văn hoa hơn. Thí dụ các cặp từ này: phụ nữ/đàn bà; nhi đồng/trẻ em; phu nhân/vợ; mẫu tử/mẹ con; trường thọ/sống lâu; từ trần/chết...

Tuy nhiên, có những từ Hán - Việt lại mang mầu sắc tu từ trái ngược so với từ gốc Hán. Đáo để vốn có nghĩa "đến cùng", song trong ngôn ngữ Việt Nam lại là "riết róng, đanh đá". Thủ đoạn chỉ có nghĩa "phương pháp, kỹ pháp", song đối với chúng ta thì đây là từ chỉ "mưu mẹo, mánh khóe" theo nghĩa xấu. Dã tâm trong tiếng Hán chỉ mang nghĩa "tham vọng", song biến thành từ Hán - Việt thì có nghĩa "lòng dạ hiểm độc". Trường hợp từ khốn nạn mà chúng tôi dẫn ở đầu bài này thì trong tiếng Hán chẳng mang sắc thái nào đặc biệt, nhưng với dân ta, đây lại là từ dùng để nhiếc móc, chửi rủa!

Qua những điều vừa nêu, bạn đọc đủ thấy rằng: Từ gốc Hán được Việt hóa để trở thành từ Hán - Việt không còn là... từ Hán. Đề tài này nếu được khai triển dưới nhiều góc độ khác, chắc chắn sẽ đem lại vô số điều thú vị và hữu ích cho công cuộc "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt".

Võ Ngân Vương
(Tạp chí Tài hoa trẻ)

Thanh mai trúc mã


Thành ngữ thanh mai trúc mã dùng để chỉ những người là bạn bè thân thiết từ thủa thơ ấu và thường là của những người khác giới. Vậy thanh mai trúc mã là gì. Từ điển tiếng Việt của Đào Duy Anh giải thích thanh mai là quả mơ xanh còn trúc mã là con ngựa làm bằng tre. Theo cách giải thích này thì thanh mai là món ăn yêu thích của bé gái còn trúc mã là đồ chơi yêu thích của các bé trai. Nghĩa là chỉ tình bạn từ khi còn rất bé. Song có ý kiến cho rằng trúc mã là đánh dấu một thời điểm sinh trưởng(thời kỳ khoe mã) cuả cây trúc (biểu tượng cho nam giới). Giai đoạn này cây trúc cũng khá lớn nhưng thân còn mềm yếu (chưa trưởng thành), rất phù hợp với thanh mai quả mơ xanh tuy đã thành quả nhưng chưa chín (chưa trưởng thành) mà mai theo quan niêm xưa là biểu tượng của nữ giới. Vì thế, câu thành ngữ này được hiểu là bạn thời niên thiếu chứ không tính từ thơ ấu như cách giải thích trên.

Mỏng mày hay hạt


Thành ngữ này, để chỉ những người phụ nữ có khuôn mặt nhẹ nhõm, xinh xắn, dáng người thon thả thắt đáy lưng ong (lưng chữ cụ- eo nhỏ, hông to). Mày và hạt vốn là hai từ quen thuộc với người làm nghề nông vì hai từ này gắn với việc chọn giống cây trồng. Mày là cái vẩy dính ở gốc hạt lúa, hạt ngô. Hạt lúa hễ mỏng mày thì thường rất chắc(hay hạt); những hạt này, chọn làm giống rất tốt vì dễ nảy mầm. Người phụ nữ được nhìn nhận là “mỏng mày hay hạt” theo quan niệm xưa thì đó là những người hứa hẹn sẽ phát triển tốt nòi giống cho nhà chồng(điều này phù hợp với tín ngưỡng phồn thực của người Việt). Hơn nữa theo tướng pháp những người “thắt đáy lưng ong” thường khéo chiều chồng và khéo nuôi con nên đây cũng là một tiêu chuẩn để chọn con dâu của các cụ ta ngày xưa. Liên quan đến kinh nghiệm chọn người có một vài tỷ dụ để bạn so sánh:

Đàn bà lanh lảnh tiếng đồng
Một là sát chồng hai là hại con.
Hay câu:
Những người béo trục béo tròn
Ăn vụng như chớp đánh con cả ngày.
Những người thắt đáy lưng ong
Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con.
Ở đây béo trục béo tròn là ngược lại của thắt đáy lựng ong.

Xin dan mot dia chi de cac ban tham khao:
http://www.vietlyso.com/forums/showthread.php?t=12432

Trà dư tửu hậu

Những ai thích uống rượu và ưa thưởng trà mà lại có bạn hiền thì câu chuyện trà dư tửu hậu mới có dịp nảy nở một cách thú vị. Thật đúng với ý của Nguyễn Khuyến khi khóc Dương Khuê:"Rượu ngon không có bạn hiền, Không mua không phải không tiền không mua."Trong khi tiếp xúc với các bạn trẻ, có người hỏi chúng tôi rằng: “Tại sao người ta lại gọi là trà dư tửu hậu?" Nhờ có câu hỏi này mà chúng tôi mới có dịp trình bày với quí vị về chuyện trà dư tửu hậu hôm nay.Theo duy danh định nghĩa, trà dư tửu hậu có nghĩa là cái dư vị ngọt ngào của trà sau khi uống xong còn lưu lại trong miệng và cái cảm giác êm đềm lâng lâng và say ngà ngà sau khi uống rượu còn tồn tại nơi ta.Nghĩa bóng của trà dư tửu hậu là để chỉ câu chuyện phiếm về đủ mọi đề tài giữa bạn bè sau khi đã thưởng trà hay uống rượu.Các cụ cho thứ trà ngon là thứ trà sau khi uống xong ta cảm thấy vị ngọt ngào đậm đà và thơm tho còn thấm lắng trong cuống họng, trên lưỡi, và ngoài môi. Những người sành rượu cho rằng thứ rượu ngon là thứ rượu sau khi uống ta cảm thấy say êm êm, thoải mái, hứng thú, không bị nhức đầu, và “mềm môi chén mãi tít cung thang.” Chính nhờ vậy mà sau khi thưởng trà hay uống rượu, ta mới có thú nói chuyện phiếm với nhau. Những câu chuyện nói trong dịp này được gọi là “chuyện trà dư tửu hậu.”Trong lá thư ngày 30 tháng 9 năm 1996 viết cho chúng tôi, nhà văn Lạp Chúc Nguyên Huy cho rằng lúc trà dư tửu hậu là lúc người ta bàn chuyện nhân tình thế thái trong khi tâm hồn lâng lâng và cảm thấy trời đất mang mang bởi vì mới cạn một hồ trường.
Sau khi uống rượu vào là có bao nhiêu bầu tâm sự cũng trút ra hết, hết chuyện người lại đến chuyện gia đình và chuyện nghề nghiệp của mình. Vì thế người xưa mới có câu: “Rượu vào, lời ra” là để chỉ việc này. Và cũng chính vì thế mà người có tư cách, biết tự trọng, và có trách nhiệm thường tránh uống rượu say. Nếu đã say thì họ cố gắng tránh nói nhiều, nhất là tránh nói về những chuyện cần phải bảo mật mà chỉ hướng câu chuyện về đề tài văn chương, thơ phú, và thời sự mà thôi.
Ngoài ra, khi “tửu hậu” ta lại có hứng thú trong việc “chăn gối” nữa như đã được diễn tả trong câu ca dao sau:
"Thứ nhất rượu đã ngà ngà, Thứ nhì chàng ở phương xa mới về."
Sau khi uống rượu, người ta còn quên chuyện buồn phiền và có hứng làm thơ. Thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, trong bài “Thơ Rượu,” có viết:
“Cảnh đời gió gió mưa mưa,Buồn trông, ta phải say sưa đỡ buồn. Rượu say, thơ lại khơi nguồn, Nên thơ, rượu cũng thêm ngon giọng tình. Rượu thơ mình lại với mình, Khi say quên cả cái hình phù du.”
Thi sĩ Tản Đà còn coi rượu với thơ là lẽ sống. Trong bài “Ngày Xuân Thơ Rượu," ông viết:
“Trời đất sinh ta rượu với thơ,Không thơ không rượu sống như thừa.”
Quả thật, không gì thú vị bằng chuyện trà dư tửu hậu khi có vừa đủ số bạn bè họp mặt như lời tiền nhân đã được diễn tả trong câu: “Trà tam tửu tứ." Uống trà phải có ba người mới thật là tuyệt, nhậu rượu mà có được bốn người thì cuộc vui mới thật thú vị. Lý do chính là khi có vừa đủ số người lý tưởng tham dự, trà tam tửu tứ, thì việc tiếp đãi của chủ nhân mới được chu đáo, trà đủ cữ đậmđà, rượu mới có cơ hội chén thù (chén rượu chủ rót ra mời khách) chén tạc (chén rượu khách rót ra mời lại chủ), và người này nói mới có người kia nghe. Nhờ đó, câu chuyện mới được vui tươi và hứng thú.
Sau khi nhấp chén trà hay hớp ngụm rượu, người ta thường có thói quen “khà” một tiếng rồi chậm rãi kể chuyện cho nhau nghe. Nhờ đó câu chuyện mới có thi vị và bạn bè mới có hứng thú và chú ý nghe. Tuy nhiên, uống rượu phải theo cung cách tiên tửu, chúng ta mới hưởng được cái thú của trà dư tửu hậu. Tiên tửu nghĩa là cách uống rượu có chừng mực, uống một cách thanh lịch, và uống còn đủ tỉnh để nghe người khác nói hầu có thể phán đoán, đối đáp với bạn bè, và nhất là được hưởng cái thú rượu uống ngà ngà. Trái nghĩa với tiên tửu là tục tửu. Tục tửu để chỉ cách uống rượu của những hạng người thô tục. Những hạng tục tửu thường uống rượu thật nhiều, thi nhau uống hết chai này đến chai khác, và uống cho say túy lúy. Khi đã say rồi, mọi người đều nói, thi nhau nói, và cố nói cho thật to mà không ai chịu nghe người khác nói. Kết quả là say mê man, bắt đầu nói nhảm, mửa ra mật xanh mật vàng ngay tại chỗ, và cuối cùng ngủ li bì như chết cho tới một hai ngày, chỉ khổ cho vợ con.
Những câu chuyện trà dư tưu hậu thường bàn về chuyện thế thái nhân tình gồm: chuyện tiếu lâm, thơ văn điển tích, chính trị, tôn giáo, chiến tranh, và bàn hết chuyện người lại tới đến chuyện mình, nghĩa là gồm đủ thứ chuyện. Câu chuyện có thú vị và hào hứng hay không là do người kể và người nghe có tỉnh táo hay không, và lối kể chuyện cùng nghệ thuật gợi chuyện của bạn bè họp mặt có hòa hợp hay không. Có biết cách sống, có bằng hữu tốt, có gia đình hạnh phúc, có tri âm tri kỷ, có cuộc sống thanh cao thoải mái, và có sức khỏe tốt, chúng ta mới có cơ hội thưởng thức thú trà dư tửu hậu với đúng nghĩa của nó.